Mô-típ tượng trôi dạt vào bến: vì sao thần trong chuyện làng hay đến bằng đường nước
Tượng gỗ trôi sông mắc vào bến, trai làng khiêng không nổi, chỉ một người nhấc được: mô-típ lặp lại từ Bắc vào Nam và ra cả Nhật, châu Âu. Nó kể gì?
Tượng gỗ trôi sông mắc vào bến, trai làng khiêng không nổi, chỉ một người nhấc được: mô-típ lặp lại từ Bắc vào Nam và ra cả Nhật, châu Âu. Nó kể gì?
Chuông Quy Điền bỏ ở ruộng rùa, lưỡi gươm vớt lên trong lưới, chuông thành Ys kêu dưới biển: vì sao chuyện kể ưa đặt báu vật dưới nước và nên đọc chúng thế nào.
Vua mơ thấy Quan Âm, bô lão mơ thần chỉ đất dựng đền: báo mộng là mô-típ dày đặc trong sự tích di tích. Bài đọc nó như văn học dân gian, không giải mộng.
Rìu mẻ, người chặt ngã bệnh, thân cây rỉ nhựa đỏ: chuyện cây không chặt được có ở nhiều đền chùa. Bài đọc mô-típ ấy, giải thích lớp sinh học và chức năng giữ câ
Kiệu rước thần bỗng lao đi, xoay vòng, kéo cả tốp người khiêng: chuyện kiệu bay được kể ở nhiều hội làng. Bài ghi lời kể, lời người khiêng và các cách giải thíc
Bà cụ ăn xin xin cơm, cô hàng nước bên đường, bà lão áo đỏ trên đồi: vì sao thần trong chuyện Việt hay đội lốt người thường, và mô-típ ấy dạy cộng đồng điều gì.
Tiếng ngâm thơ trong đền bên sông Như Nguyệt, thần núi báo trước binh biến, triều đình gia phong thần sau chiến thắng: đọc mô-típ âm phù như văn học và sử.
Sách chí quái, chuyện duyên khởi chùa Nhật, truyện các thánh châu Âu và thần tích làng Việt: đặt cạnh nhau để thấy chuyện linh ứng Việt có nét riêng nào.
Bảng mô-típ của Stith Thompson, hệ ATU, Propp, cách Bascom chia thần thoại, truyền thuyết, cổ tích: công cụ để ghi và xếp chuyện linh ứng ở một di tích Việt.
Vì sao làng nào cũng có chuyện thần linh ứng: chuyện kể giúp làng có danh, giữ đình đền, giữ đất công, giữ cây rừng. Đọc chức năng của chuyện, không bàn thật gi