Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585), người làng Trung Am, vùng Vĩnh Bảo nay thuộc thành phố Hải Phòng, đỗ Trạng nguyên năm 1535 dưới triều Mạc, làm quan ít năm rồi về quê dựng quán Trung Tân bên sông Tuyết Giang và am Bạch Vân để dạy học; ông được phong tước Trình Tuyền hầu nên dân gian gọi là Trạng Trình.
Ở quê ông, giai thoại về Trạng Trình nhiều đến mức khó đếm: chuyện người mẹ giỏi lý số, chuyện ba lời khuyên cho ba dòng họ đang tranh hùng, chuyện ông đoán trước việc sau khi mình mất. Bài này đi theo các nơi chốn ở Vĩnh Bảo, tách điều sử và văn bia ghi nhận với điều dân gian gán thêm. Bài không giải sấm và không đọc sấm vào thời sự; sấm ký chỉ được nói như một hiện tượng văn hoá.
Làng Trung Am và người mẹ họ Nhữ
Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh ra ở làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại xưa, bên dòng sông Tuyết Giang, một nhánh của hệ thống sông vùng duyên hải. Cha ông là Nguyễn Văn Định, mẹ là bà Nhữ Thị Thục, con gái một vị quan đời Lê. Các sách giai thoại và lời kể địa phương đều dành chỗ đặc biệt cho người mẹ: bà được tả là người học rộng, giỏi văn chương và am hiểu lý số.
Giai thoại kể rằng bà Nhữ có chí lớn, mong sinh con làm nên việc lớn. Một chuyện được kể nhiều là khi cậu bé còn nhỏ, trong một đêm trăng, người cha đọc một câu tả trăng, cậu bé đối lại bằng một câu mang ý cúi mình. Bà mẹ nghe xong thì buồn, cho rằng câu ấy là giọng của người phục tùng, không phải của người đứng đầu. Câu đối trong chuyện có nhiều dị bản, nên chỉ nên kể ý, không trích như văn bản chắc chắn.
Những chuyện về bà Nhữ Thị Thục cho thấy một nét đáng chú ý của giai thoại Việt: dân gian rất hay "giải thích" tài năng của một người bằng người mẹ. Với Trạng Trình, tài lý số mà người đời gán cho ông được kể là có gốc từ mẹ. Đây là lời kể, không có trong chính sử, nhưng nó làm cho chân dung ông có thêm chiều sâu gia đình.
Khi đến Vĩnh Bảo, bạn sẽ nghe người làng nhắc đến bà Nhữ với sự kính trọng đặc biệt. Đó là một trong số ít trường hợp người mẹ của danh nhân có chỗ đứng rõ nét trong ký ức địa phương.
Quán Trung Tân và am Bạch Vân: phần sử và văn bia
Về quê. Ông đỗ Trạng nguyên năm 1535 khi đã ngoài bốn mươi tuổi, làm quan dưới triều Mạc khoảng tám năm. Sử cũ chép ông dâng sớ xin trừng trị những kẻ lộng quyền, không được chấp thuận, bèn xin về quê.
Quán Trung Tân. Ở quê, ông dựng một ngôi quán bên bến sông, đặt tên Trung Tân. Ông viết bài văn bia cho quán, thường được gọi là Trung Tân quán bi ký, giải thích chữ "trung" theo nghĩa dừng lại đúng chỗ, đúng lúc. Văn bia là nguồn quý vì do chính ông viết; nếu muốn trích, nên dùng bản dịch đã công bố của giới nghiên cứu Hán Nôm.
Am Bạch Vân. Ông dựng am Bạch Vân để đọc sách, dạy học, và lấy hiệu Bạch Vân cư sĩ. Học trò của ông về sau có nhiều người nổi tiếng, như Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Dữ, tác giả Truyền kỳ mạn lục. Chuyện ông dạy học thế nào là đề tài riêng; ở đây chỉ nói am như một điểm của câu chuyện.
Di tích hôm nay. Khu di tích thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm ở quê ông gồm đền thờ, quán Trung Tân và nhiều hạng mục được phục dựng. Khi tham quan, nên hiểu phần lớn công trình là kiến trúc dựng lại, còn giá trị cốt lõi là văn bia, thơ văn và ký ức của làng.
Ba lời khuyên cho ba dòng họ: giai thoại nổi tiếng nhất
Thời Nguyễn Bỉnh Khiêm sống là thời đất nước chia cắt giữa các thế lực Mạc, Lê – Trịnh và sau đó là họ Nguyễn ở phía nam. Dân gian kể rằng cả ba bên đều từng sai người đến hỏi ý ông, và ông trả lời mỗi bên bằng một câu ngắn. Bảng dưới tóm tắt theo cách kể phổ biến.
| Người hỏi | Ý lời đáp theo giai thoại | Diễn biến về sau | Mức độ nguồn |
|---|---|---|---|
| Nguyễn Hoàng (qua người đưa tin) | Dải Hoành Sơn có thể là nơi dung thân lâu dài | Nguyễn Hoàng xin vào trấn thủ Thuận Hoá, mở đầu cơ nghiệp phương Nam | Giai thoại lưu truyền rộng, được chép trong sách đời sau |
| Trịnh Kiểm | Giữ chùa thờ Phật thì được hưởng lộc, ý khuyên giữ vua Lê làm danh nghĩa | Họ Trịnh không phế vua Lê mà nắm quyền thực | Giai thoại, nhiều dị bản câu chữ |
| Nhà Mạc | Cao Bằng tuy nhỏ hẹp nhưng có thể giữ được thêm một thời gian | Nhà Mạc sau khi mất Thăng Long lên Cao Bằng giữ thêm nhiều đời | Giai thoại, chép trong sách đời sau |
Điều đáng chú ý là mọi lời khuyên trong giai thoại đều "đúng" theo những gì xảy ra về sau. Đó chính là dấu hiệu cho thấy giai thoại có thể đã được hoàn thiện sau sự kiện: người đời sau biết kết cục rồi mới kể lại lời đoán. Giới nghiên cứu có nhiều ý kiến về mức độ xác thực; cách an toàn khi kể là nói "dân gian kể rằng" và không trình bày như lời tiên tri được kiểm chứng. Bài cũng không đi vào chính sự giữa các dòng họ; phần ấy thuộc sách sử.
Sấm Trạng Trình: một hiện tượng văn hoá, không phải lời giải cho hôm nay
Tên Trạng Trình gắn chặt với hai chữ "sấm ký". Từ nhiều thế kỷ, những câu văn vần mang tính tiên đoán được truyền tay dưới tên ông, gọi chung là sấm Trạng Trình. Các bản sấm lưu hành có nhiều dị bản, câu chữ khác nhau, và phần lớn được chép, in rất muộn so với thời ông sống. Giới nghiên cứu văn bản học đã nhiều lần lưu ý rằng không thể xác định bản nào, câu nào thật sự do ông viết.
Vì sao sấm lại được gán cho ông? Có mấy lý do thường được nêu. Ông sống rất lâu, chứng kiến nhiều biến động, có tiếng là người nhìn xa. Học trò của ông đông và nhiều người có vị thế, nên tên ông được nhắc thường xuyên. Và trong thời loạn, người ta cần một tiếng nói được kính trọng để gửi gắm những lời đoán; gán cho một ông Trạng nổi tiếng thì lời ấy có sức nặng hơn.
Ở Vĩnh Bảo, người làng thường kể về sấm như một phần của danh tiếng ông, không phải như một cuốn sách để giải đoán. Đó cũng là cách nên giữ khi kể lại: sấm Trạng Trình là một hiện tượng văn hoá đáng tìm hiểu, cho thấy người xưa đối diện với bất an ra sao. Đem câu sấm ra đoán chuyện hôm nay, hay gán cho một sự kiện thời sự, là việc vừa không có căn cứ vừa dễ gây hiểu lầm.
Những chuyện "đoán trước" khác và cách đọc chúng
Ngoài ba lời khuyên và sấm ký, quanh quê Trạng Trình còn lưu truyền nhiều chuyện nhỏ về tài đoán trước của ông. Các chuyện này thường được kể theo vài khuôn chung.
- Đoán trước việc sau khi mất. Có những chuyện kể ông dặn dò con cháu về việc sẽ xảy ra với đền, mộ của mình nhiều năm sau, và việc ấy xảy ra đúng như lời dặn. Đây là mô-típ quen thuộc của truyện về người có tài tiên tri ở nhiều nền văn hoá.
- Lời nhắn cho người đời sau. Có chuyện kể một vị quan đời sau đến đền ông và gặp một lời nhắn ông để lại từ trước. Các bản kể khác nhau về người đến và nội dung lời nhắn.
- Dạy học trò bằng câu đố. Một số giai thoại kể ông trả lời học trò bằng câu đố, câu nói hai nghĩa, để học trò tự hiểu. Chuyện này gần với hình ảnh người thầy hơn là nhà tiên tri.
- Chọn chỗ dựng nhà, dựng quán. Người làng kể ông chọn chỗ dựng quán Trung Tân theo thế đất. Đây là lời kể; văn bia của chính ông giải thích tên quán theo ý nghĩa đạo lý, không theo thuật xem đất.
Đọc những chuyện này, nên nhớ một điều: chúng nói về cách dân gian kính trọng một người hiểu biết, không phải bằng chứng cho khả năng tiên tri. Chính văn bia và thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm cho thấy ông quan tâm nhiều nhất đến lẽ sống ở đời, sự tiết độ, chữ nhàn. Kể giai thoại kèm theo một đoạn thơ văn thật của ông sẽ giúp người nghe thấy cả hai lớp chân dung.
Kể chuyện Trạng Trình cho đúng tinh thần
Trạng Trình là danh nhân bị "huyền thoại hoá" nhiều bậc nhất trong lịch sử Việt Nam. Điều đó vừa giữ tên ông sống mãi, vừa làm mờ đi con người thật: một nhà thơ, một người thầy, một vị quan từ bỏ chức vị vì không chịu được cảnh lộng quyền. Người làm nội dung, thuyết minh, giáo viên có thể giúp người nghe thấy lại con người ấy.
Có mấy gợi ý thực tế. Mở đầu bằng những điều có căn cứ: năm đỗ, việc dâng sớ, việc về quê, văn bia quán Trung Tân. Rồi mới kể giai thoại, nói rõ đâu là lời kể. Khi nhắc sấm, dừng ở hiện tượng văn hoá, không trích sấm để đoán việc. Với học sinh, có thể đọc vài câu thơ Nôm của ông về chữ nhàn, cuộc sống thôn quê, để các em thấy ông là một nhà thơ trước khi là "nhà tiên tri".
Cũng nên tránh những nội dung đang lan truyền gán cho ông những lời đoán về thời hiện đại, hay dùng tên ông để quảng bá dịch vụ xem bói. Những thứ đó không có liên quan gì đến di sản thật của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trân trọng ông là kể đúng về ông.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao Nguyễn Bỉnh Khiêm được gọi là Trạng Trình?
Ông đỗ Trạng nguyên năm 1535 và được triều Mạc phong tước Trình Tuyền hầu, sau thăng Trình quốc công. Dân gian ghép chữ Trạng với chữ Trình trong tước hiệu thành tên gọi Trạng Trình.
Quê Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện nay thuộc tỉnh nào?
Ông người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại xưa, vùng Vĩnh Bảo. Vùng này đã thuộc Hải Phòng từ lâu và nay vẫn thuộc thành phố Hải Phòng. Ở đây có khu di tích thờ ông, gồm đền và quán Trung Tân phục dựng.
Quán Trung Tân có ý nghĩa gì?
Theo bài văn bia do chính Nguyễn Bỉnh Khiêm viết, chữ trung trong tên quán mang nghĩa dừng lại đúng chỗ, đúng lúc, giữ sự vừa phải. Quán dựng bên bến sông Tuyết Giang là nơi ông nghỉ chân, gặp gỡ người qua lại.
Ba lời khuyên của Trạng Trình có thật không?
Đây là giai thoại lưu truyền rộng và được chép trong sách đời sau. Mọi lời khuyên đều khớp với diễn biến về sau, nên nhiều người cho rằng giai thoại đã được hoàn thiện sau sự kiện. Khi kể nên dùng chữ dân gian kể rằng.
Sấm Trạng Trình có phải do ông viết không?
Không xác định được. Các bản sấm lưu hành có nhiều dị bản và phần lớn được chép, in muộn hơn nhiều so với thời ông sống. Giới nghiên cứu coi sấm Trạng Trình là một hiện tượng văn hoá, không thể khẳng định câu nào là của ông.
Muốn đọc thơ văn thật của Nguyễn Bỉnh Khiêm thì tìm ở đâu?
Nên tìm các tuyển tập thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm do giới nghiên cứu Hán Nôm biên soạn, có phần phiên âm, dịch nghĩa và chú thích. Thơ Nôm của ông thường được biết qua Bạch Vân quốc ngữ thi tập, thơ chữ Hán qua Bạch Vân am thi tập.