MauNhiem.comMầu Nhiệm
Giai thoại danh nhân bên di tích

Nguyễn Du ở Tiên Điền: núi Hồng, sông Lam và những giai thoại quê nội nhà thơ

Người đi săn núi Hồng, câu ca về họ Nguyễn Tiên Điền, phường vải Trường Lưu, lời cuối trước khi mất: giai thoại Nguyễn Du gắn với quê nội Hà Tĩnh.

Low hills covered in pine and scrub above a wide calm river in Ha Tinh at early morning, a fisherman on a small boat seen far away, pale blue haze

Nguyễn Du (1765–1820) sinh ở Thăng Long nhưng quê nội là làng Tiên Điền, vùng Nghi Xuân, Hà Tĩnh, dưới chân dãy Hồng Lĩnh và bên bờ sông Lam; ông sống ở đây khoảng những năm cuối thế kỷ XVIII, tự gọi mình là người đi săn núi Hồng, rồi sau ra làm quan nhà Nguyễn và mất ở Huế.

Quanh Tiên Điền có nhiều giai thoại về ông và gia tộc: câu ca về dòng họ quan lại, những ngày đi săn, chuyện hát phường vải với các cô gái Trường Lưu, chuyện lời cuối trước khi mất. Bài này kể lại theo nơi chốn, tách những gì sử nhà Nguyễn và tư liệu dòng họ ghi nhận với những gì là lời truyền. Phần đọc tác phẩm, nhất là Truyện Kiều, không nằm trong bài; ở đây chỉ là chuyện của người và đất.

Làng Tiên Điền và dòng họ Nguyễn

Tiên Điền nằm ở vùng Nghi Xuân, phía nam sông Lam, đối diện đất Nghệ An qua dòng sông. Phía sau làng là dãy Hồng Lĩnh, dân gian quen gọi là núi Hồng hay ngàn Hống. Đây là quê nội của dòng họ Nguyễn có nhiều người đỗ đạt và làm quan lớn thời Lê trung hưng, mà người cha của Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm, từng giữ chức Tể tướng.

Dân gian vùng Nghi Xuân truyền một câu ca dao nói rằng chừng nào rừng núi Hồng còn cây, sông còn nước thì họ này còn người làm quan. Câu ca có vài dị bản về tên sông và chữ dùng; ý chung là khen một dòng họ khoa hoạn bền lâu gắn với núi sông quê nhà. Khi trích, nên ghi rõ đây là ca dao địa phương có dị bản.

Nguyễn Du lớn lên chủ yếu ở Thăng Long trong một gia đình quyền quý, mồ côi cha khi còn nhỏ, rồi mồ côi mẹ. Biến động cuối thế kỷ XVIII làm gia tộc chao đảo. Sau một thời gian sống ở quê vợ ở vùng Thái Bình cũ, ông trở về Tiên Điền. Chính quãng đời ở quê nội này sinh ra phần lớn các giai thoại địa phương về ông.

Như vậy, Tiên Điền không phải nơi ông sinh ra mà là nơi ông trở về. Điều đó giải thích vì sao các giai thoại ở đây ít chuyện thơ ấu, nhiều chuyện về một người trưởng thành sống giữa núi sông và người làng.

Người đi săn núi Hồng: chuyện kể về những năm ở quê

Hiệu Hồng Sơn liệp hộ. Nguyễn Du có hiệu là Hồng Sơn liệp hộ, nghĩa là người đi săn ở núi Hồng, và Nam Hải điếu đồ, người câu cá ở biển Nam. Hai hiệu này được ghi trong tư liệu về ông và là gốc của nhiều chuyện kể về những ngày đi săn, đi câu ở quê.

Chuyện đi săn. Lời kể địa phương tả ông thường vào núi Hồng săn bắn, có khi đi nhiều ngày. Có bản kể ông đi săn không phải vì thú vui mà để giải nỗi buồn của người thất thế giữa thời loạn. Đây là cách hiểu của người kể, phù hợp với tâm trạng trong thơ chữ Hán của ông thời kỳ này.

Núi Hồng chín mươi chín ngọn. Dãy Hồng Lĩnh có truyền thuyết riêng: tương truyền núi có chín mươi chín ngọn, có bản kể đàn chim lớn bay về đậu mỗi con một ngọn, thiếu một ngọn nên đất này không thành nơi đóng đô. Truyền thuyết có trước Nguyễn Du và thuộc về cảnh quan, nhưng người kể chuyện ở Tiên Điền hay nối nó với hình ảnh người đi săn núi Hồng.

Thơ làm chứng. Các bài thơ chữ Hán Nguyễn Du viết trong thời kỳ này, được tập hợp trong Thanh Hiên thi tập, nói nhiều về bệnh tật, nghèo khó, nỗi nhớ anh em. Đọc chúng giúp hiểu những năm ở quê thật hơn các giai thoại phóng khoáng.

Phường vải Trường Lưu: giai thoại hát ví và mối tình

Giai thoại được kể nhiều nhất về Nguyễn Du ở Hà Tĩnh là chuyện ông đi hát phường vải ở làng Trường Lưu, vùng Can Lộc. Hát phường vải là lối hát đối đáp giữa trai làng và các cô gái kéo sợi, dệt vải, thường diễn ra vào ban đêm, là một phần của dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh, di sản được UNESCO ghi danh.

Theo lời kể, Nguyễn Du khi còn trẻ có dịp đến Trường Lưu hát đối đáp với các cô gái phường vải và có cảm tình sâu sắc với một người trong số đó. Gắn với giai thoại này là hai tác phẩm truyền thống cho là của ông: một bài văn tế sống viết tặng hai cô gái Trường Lưu và một bài thơ dài thác lời người con trai phường nón. Giới nghiên cứu nhìn chung coi hai tác phẩm là tư liệu đáng chú ý, dù vẫn còn thảo luận về văn bản và hoàn cảnh sáng tác.

Giai thoại này được yêu thích vì nó cho thấy một Nguyễn Du khác: không phải con quan buồn bã giữa thời loạn, mà là chàng trai biết hát ví, biết đối đáp với người dân quê. Nó cũng giúp giải thích vì sao Truyện Kiều có nhiều chất dân ca, ca dao. Đây là một suy luận hợp lý được nhiều người nêu, nhưng không nên trình bày như bằng chứng chắc chắn.

Ở Trường Lưu hôm nay, câu chuyện vẫn được kể, gắn với ký ức về một dòng họ khoa bảng khác trong làng. Khi kể, nên giữ tên các cô gái và các chi tiết riêng tư ở mức người kể địa phương đưa ra, không thêm thắt cho lãng mạn hơn.

Phân lớp các chuyện về Nguyễn Du ở Hà Tĩnh

Bảng dưới gom các giai thoại chính, sắp theo mức độ nguồn để bạn dùng khi viết hay thuyết minh.

ChuyệnNơi gắn vớiCăn cứCách nói khi kể
Dòng họ quan lại Tiên ĐiềnTiên Điền, Nghi XuânGia phả, sử, văn biaNêu như sự kiện
Câu ca về núi Hồng và sôngNghi XuânCa dao địa phương, có dị bản"Dân gian có câu…"
Hiệu người đi săn núi HồngDãy Hồng LĩnhTư liệu về tên hiệu của ôngNêu như sự kiện
Đi săn nhiều ngày để giải buồnNúi HồngLời kể, phù hợp với thơ"Lời kể địa phương…"
Hát phường vải ở Trường LưuTrường Lưu, Can LộcLời kể và hai tác phẩm truyền thống gắn với ông"Tương truyền…", nhắc tác phẩm
Núi Hồng chín mươi chín ngọnHồng LĩnhTruyền thuyết cảnh quanKể như truyền thuyết, tách khỏi Nguyễn Du

Đặt các chuyện theo lớp như vậy, bạn sẽ thấy phần lớn giai thoại về Nguyễn Du ở quê nội không có phép lạ. Chúng thiên về đời thường: săn bắn, hát hò, tình cảm. Điều này hợp với một nhà thơ mà tác phẩm lớn nhất viết về số phận con người hơn là thần tiên.

Truyện Kiều viết ở đâu: chuyện người làng và tranh luận của giới nghiên cứu

Một câu hỏi người đến Tiên Điền hay đặt ra là Nguyễn Du viết Truyện Kiều ở đâu, vào lúc nào. Người làng thường kể rằng ông viết trong những năm sống ở quê, giữa núi Hồng và sông Lam, khi gia tộc sa sút và bản thân ông nghèo khó. Cách kể ấy rất hợp lòng người: nỗi đau của Kiều được đặt vào chính cảnh quê của nhà thơ.

Giới nghiên cứu thì có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng tác phẩm hình thành trước khi ông ra làm quan; có ý kiến lại nghiêng về giai đoạn sau chuyến đi sứ nhà Thanh, khi ông đã đọc và tiếp xúc nhiều hơn với văn học Trung Hoa. Bản thân Truyện Kiều dựa trên cốt truyện một tiểu thuyết Trung Hoa, nên câu hỏi về thời điểm cũng gắn với câu hỏi ông tiếp cận cuốn sách ấy lúc nào. Đến nay chưa có kết luận được mọi người chấp nhận.

Với người kể chuyện, điều nên làm là giữ cả hai: kể lời làng như một niềm tự hào địa phương, rồi nói thêm rằng giới nghiên cứu còn bàn luận về thời điểm sáng tác. Không cần chọn phe; chính sự chưa ngã ngũ làm câu chuyện thêm thú vị cho người nghe.

Một tục nhỏ ở Tiên Điền cũng đáng ghi lại: nhiều người đến thăm thích đọc vài câu Kiều tại nhà lưu niệm, có người lẩy Kiều, có người bói Kiều cho vui. Bói Kiều là một tục chơi chữ có từ lâu trong văn hoá Việt; khi nhắc đến, nên tả như một sinh hoạt văn hoá, không coi lời bói là lời đoán thật cho đời ai.

Lời cuối ở Huế và ngôi mộ ở quê

Nguyễn Du ra làm quan với nhà Nguyễn từ đầu thế kỷ XIX, từng đi sứ sang nhà Thanh, và mất ở Huế năm 1820. Sử nhà Nguyễn chép một chi tiết được nhắc mãi: khi ốm nặng, ông không chịu uống thuốc; lúc sắp mất, ông bảo người nhà sờ tay chân, nghe nói đã lạnh, ông chỉ nói một tiếng rồi đi, không dặn dò gì thêm. Chi tiết này được nhiều người đọc như hình ảnh một con người đã mệt mỏi với đời, nhưng đó là lời bình của người đời sau.

Theo tư liệu dòng họ và di tích, về sau phần mộ của ông được đưa về quê Tiên Điền. Khu di tích Nguyễn Du ở Tiên Điền hôm nay gồm nhà thờ, khu mộ, nhà lưu niệm và những không gian trưng bày về dòng họ. Người làng coi đó là nơi "ông về nhà" lần cuối.

Quanh ngôi mộ cũng có những lời kể nhỏ của người làng, phần lớn là lòng kính trọng: chuyện người đến thăm đọc vài câu Kiều trước mộ, chuyện học sinh trước kỳ thi ghé thăm. Những tục ấy là cách cộng đồng giữ quan hệ với nhà thơ, không phải lời hứa gì. Khi viết về chúng, nên tả như một nét văn hoá, không khuyến khích hay chê bai.

Nếu muốn mua một bản Truyện Kiều đẹp hay một bức tranh minh hoạ làm kỷ niệm, nên chọn nơi ghi rõ bản in, người khảo đính và chất liệu.

Câu hỏi thường gặp

Nguyễn Du sinh ra ở đâu?

Nguyễn Du sinh năm 1765 ở Thăng Long. Quê nội của ông là làng Tiên Điền, vùng Nghi Xuân, Hà Tĩnh, nơi ông trở về sống một thời gian cuối thế kỷ XVIII. Nhiều người nhầm Tiên Điền là nơi ông sinh ra.

Hồng Sơn liệp hộ nghĩa là gì?

Hồng Sơn liệp hộ nghĩa là người đi săn ở núi Hồng, tức dãy Hồng Lĩnh phía sau làng Tiên Điền. Đây là một trong những tên hiệu của Nguyễn Du, cùng với Nam Hải điếu đồ, người câu cá ở biển Nam.

Chuyện Nguyễn Du hát phường vải ở Trường Lưu có thật không?

Đây là giai thoại lưu truyền ở Hà Tĩnh, gắn với hai tác phẩm truyền thống cho là của ông, viết cho các cô gái Trường Lưu. Giới nghiên cứu coi đây là tư liệu đáng chú ý nhưng còn thảo luận về văn bản, nên khi kể nên dùng chữ tương truyền.

Mộ Nguyễn Du ở đâu?

Nguyễn Du mất ở Huế năm 1820. Theo tư liệu dòng họ và di tích, phần mộ của ông về sau được đưa về quê Tiên Điền, Hà Tĩnh, nay nằm trong khu di tích Nguyễn Du cùng nhà thờ và nhà lưu niệm.

Truyền thuyết núi Hồng chín mươi chín ngọn kể gì?

Tương truyền dãy Hồng Lĩnh có chín mươi chín ngọn, có bản kể đàn chim lớn bay về đậu mỗi con một ngọn nhưng thiếu một ngọn. Đây là truyền thuyết cảnh quan có trước Nguyễn Du, thường được kể kèm khi nói về quê ông.

Muốn tìm hiểu đời Nguyễn Du ở quê thì đọc gì?

Có thể đọc thơ chữ Hán của ông trong Thanh Hiên thi tập qua bản dịch có chú thích, kết hợp các sách nghiên cứu về tiểu sử Nguyễn Du và tư liệu của khu di tích ở Tiên Điền. Thơ cho biết tâm trạng thật hơn các giai thoại.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183