MauNhiem.comMầu Nhiệm
Mô-típ chuyện linh ứng: đọc như văn học dân gian

Mô-típ là gì trong folklore học: cách ghi chép và phân loại chuyện linh ứng

Bảng mô-típ của Stith Thompson, hệ ATU, Propp, cách Bascom chia thần thoại, truyền thuyết, cổ tích: công cụ để ghi và xếp chuyện linh ứng ở một di tích Việt.

Over the shoulder view of a researcher at a wooden desk in a quiet village house, a small voice recorder and blank index cards beside a cup of green tea, afternoon light

Trong folklore học, mô-típ là đơn vị nhỏ nhất của một câu chuyện mà người ta có thể nhận ra khi nó xuất hiện lại ở chuyện khác: một nhân vật đặc biệt (thần đội lốt người nghèo), một vật kỳ lạ (tượng không khiêng nổi), một hành động khác thường (báo mộng chỉ chỗ dựng đền). Các nhà nghiên cứu dùng mô-típ để so sánh chuyện giữa các làng, các vùng, các dân tộc, và để biết một chuyện kể ở di tích cụ thể có gì chung, có gì riêng.

Bài này giới thiệu những công cụ phân loại mà giới folklore học quốc tế và Việt Nam hay dùng, rồi áp thử vào một chuyện kể ở di tích Việt. Mục tiêu là giúp người làm thuyết minh, giáo viên, người viết nội dung hay người tự ghi chép chuyện làng biết cách nhìn một chuyện linh ứng như một tư liệu có cấu trúc, thay vì chỉ như một chuyện lạ. Việc phân biệt các thể loại truyện dân gian trong chương trình ngữ văn đã có trang riêng; ở đây chỉ dùng thể loại như một bước đầu để xếp chuyện di tích.

Mô-típ khác kiểu truyện và cốt truyện thế nào

Ba khái niệm hay bị dùng lẫn là mô-típ, kiểu truyện và cốt truyện. Cốt truyện là chuỗi sự việc của một câu chuyện cụ thể, ví dụ chuyện chùa Dâu với Man Nương, nhà sư Khâu-đà-la, cây gỗ trôi sông và các pho tượng. Kiểu truyện là một khuôn cốt truyện lặp lại ở nhiều nơi, đủ để người ta đặt tên và đánh số, ví dụ khuôn "người con gái bị dì ghẻ hành hạ được phép lạ giúp đỡ" mà truyện Tấm Cám là một bản.

Mô-típ nhỏ hơn kiểu truyện. Một kiểu truyện gồm nhiều mô-típ ghép lại, và một mô-típ có thể đi qua nhiều kiểu truyện khác nhau. Mô-típ "vật thiêng không khiêng nổi" có thể nằm trong chuyện lập chùa, chuyện lập đền, chuyện tìm thấy tượng; mô-típ "báo mộng" có thể nằm trong chuyện xây đền, chuyện sinh ra người tài, chuyện thắng giặc.

Với chuyện linh ứng ở di tích, đơn vị mô-típ thường hữu ích hơn kiểu truyện. Lý do là chuyện di tích hiếm khi theo một khuôn cốt truyện hoàn chỉnh như truyện cổ tích; chúng là những mảnh kể gắn với một nơi chốn, chắp nối qua nhiều đời. Tách được mô-típ là tách được những viên gạch mà cộng đồng đã dùng để xây câu chuyện.

Một lợi ích nữa của đơn vị mô-típ là nó giúp so sánh mà không cần hai chuyện giống nhau toàn bộ. Chuyện tượng Bà ở núi Sam và chuyện pho tượng ở Montserrat khác nhau gần như mọi chi tiết, từ nhân vật đến bối cảnh, nhưng cùng chứa mô-típ vật thiêng nặng lên ở nơi nó muốn dừng. Nhận ra điểm chung nhỏ ấy là bước đầu của mọi so sánh nghiêm túc.

Những công cụ phân loại thường được nhắc

Bảng dưới tóm lược các công cụ cơ bản. Mỗi công cụ có giới hạn riêng và đã bị phê bình nhiều; dùng chúng như bản đồ tham khảo, không phải khuôn bắt buộc.

Công cụAi, khi nàoPhân loại cái gìDùng cho chuyện di tích Việt
Bảng kiểu truyện, nay gọi là hệ ATUAntti Aarne lập năm 1910, Stith Thompson mở rộng, Hans-Jörg Uther biên tập lại năm 2004Kiểu truyện cổ tích, truyện cười, truyện động vật, đánh sốÍt khớp, vì chuyện di tích là truyền thuyết gắn nơi chốn hơn là cổ tích
Bảng mô-típ văn học dân gianStith Thompson, xuất bản lần đầu thập niên 1930, bản bổ sung thập niên 1950Mô-típ, chia theo nhóm chữ cái: thần thoại, phép thuật, người chết, điều kỳ lạ, thưởng phạt…Rất hữu ích để nhận diện các mô-típ như vật thiêng, thần đội lốt, báo mộng
Hình thái học truyện cổ tíchVladimir Propp, năm 1928Các chức năng nhân vật theo trình tự trong truyện thần kỳHữu ích để đọc cấu trúc chuyện dài có nhân vật anh hùng
Phân chia ba thể loại văn xuôi dân gianWilliam Bascom, năm 1965Thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích theo cách người kể tin và đặt thời gian, không gianGiúp xác định chuyện di tích thường là truyền thuyết: được kể như có thật, gắn nơi chốn thật

Giới nghiên cứu Việt Nam cũng có truyền thống phân loại riêng. Bộ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi vừa sưu tầm vừa khảo dị, so sánh với chuyện các nước; các nhà nghiên cứu như Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Kiều Thu Hoạch đã bàn nhiều về thể loại truyền thuyết. Người mới bắt đầu nên đọc các công trình này trước khi dùng bảng phân loại quốc tế, vì chúng đã điều chỉnh khái niệm cho hợp với tư liệu Việt.

Truyền thuyết: thể loại của chuyện di tích

Theo cách chia của Bascom mà nhiều giáo trình dùng, thần thoại kể về thời khởi thuỷ, với thần linh là nhân vật chính, được coi là thiêng; truyện cổ tích được kể như hư cấu, không gắn thời gian, nơi chốn cụ thể; còn truyền thuyết được người kể và người nghe coi là có thật, đặt trong quá khứ không quá xa, ở những nơi chốn có thật. Chuyện linh ứng ở di tích hầu hết thuộc loại truyền thuyết.

Nhà nghiên cứu Linda Dégh, người dành nhiều công trình cho truyền thuyết, nhấn mạnh rằng đặc điểm quan trọng của thể loại này là nó luôn đặt ra câu hỏi về niềm tin: người kể có thể tin, nửa tin nửa ngờ hay không tin, và chính cuộc trao đổi quanh câu hỏi "có thật không" là một phần đời sống của truyền thuyết. Điều này rất đúng với chuyện di tích Việt: người làng kể, người khách hỏi lại, người già khẳng định, người trẻ nghi ngờ, và câu chuyện sống qua những cuộc trò chuyện ấy.

Hiểu như vậy giúp người viết không rơi vào hai thái cực. Viết "chuyện này có thật" là bỏ qua bản chất thể loại; viết "chuyện này là mê tín" là bỏ qua đời sống của nó trong cộng đồng. Cách viết đúng thể loại là "dân làng kể rằng…, sách… chép…, có bản khác kể…".

Ghi chép một chuyện linh ứng ở di tích: các bước của người làm điền dã

Dù bạn là sinh viên, thuyết minh viên hay người con xa quê muốn ghi lại chuyện làng, quy trình cơ bản của người làm điền dã folklore có thể áp dụng được.

  1. Hỏi phép trước khi ghi âm, ghi hình; nói rõ bạn ghi để làm gì và người kể có muốn nêu tên hay không.
  2. Ghi thông tin người kể: tuổi, nghề, quan hệ với di tích (thủ từ, người trong ban quản lý, người làng thường), nghe chuyện từ ai.
  3. Ghi bối cảnh kể: ở đâu, dịp nào, có ai nghe cùng. Cùng một người có thể kể khác nhau trong dịp lễ và trong buổi trò chuyện thường.
  4. Ghi nguyên văn trước, chỉnh sửa sau. Giữ cả những câu ngập ngừng, những đoạn người kể tự bảo "cái này không chắc".
  5. Hỏi thêm dị bản: "Có ai kể khác không?" Ghi cả những bản mà người kể cho là sai.
  6. Đối chiếu với tư liệu thành văn nếu có: thần tích, sắc phong, bia, sách địa chí. Ghi rõ chỗ nào khớp, chỗ nào khác.
  7. Cuối cùng mới tách mô-típ và xếp loại, ghi chú rằng đó là cách đọc của bạn, không phải lời người kể.

Những phiếu ghi như vậy, dù nhỏ, là tư liệu có giá trị lâu dài. Nhiều chuyện làng chỉ còn trong trí nhớ của vài người cao tuổi, và một bản ghi cẩn thận hôm nay có thể là bản duy nhất còn lại sau này.

Áp thử: tách mô-típ trong một chuyện lập đền

Để thấy cách làm, bảng dưới tách mô-típ của một bản kể khái quát về chuyện tượng trôi lập đền (ví dụ giả định, gom từ các khuôn đã nêu trong mục này, không phải chuyện của một làng cụ thể).

Đoạn trong chuyệnMô-típNhóm theo cách chia của bảng mô-típGhi chú khi đối chiếu
Sau trận lũ, một pho tượng gỗ dạt vào bến làngVật thiêng đến bằng đường nướcĐiều kỳ lạ, vật thiêngKiểm xem làng có ghi chép về trận lũ nào không
Trai làng khiêng không nổiVật nặng bất thường, chỉ người được chọn nhấc nổiPhép thuậtAi là người nhấc được trong bản kể
Một cụ bà nằm mộng thấy thần đòi ở gò phía đôngBáo mộng chỉ chỗ dựng đềnPhép thuật, điềm báoGò phía đông hôm nay là gì
Làng dựng đền, về sau được triều đình ban sắcGhi nhận từ bên ngoàiThưởng phạt (theo nghĩa rộng)Đối chiếu năm của sắc phong còn lưu

Tách như vậy giúp thấy ngay phần nào là khuôn chung (có ở nhiều làng) và phần nào là chi tiết riêng (tên gò, tên người, năm sắc phong). Phần riêng là phần đáng kiểm chứng và đáng giữ kỹ nhất.

Giới hạn của việc phân loại

Các bảng phân loại quốc tế được lập chủ yếu từ tư liệu châu Âu, nên nhiều mô-típ của châu Á, châu Phi không có chỗ đứng rõ ràng; giới nghiên cứu đã phê bình điểm này từ lâu và nhiều nước đã lập bảng riêng cho truyện dân tộc mình. Phân loại cũng có thể làm người ta chỉ thấy cái khuôn mà quên mất người kể, quên mất lý do vì sao chuyện được kể ở làng này, vào lúc này.

Vì thế, khi dùng công cụ phân loại cho chuyện di tích Việt, bạn nên coi chúng là cái kính để nhìn rõ hơn, không phải cái hộp để nhốt câu chuyện vào. Một chuyện linh ứng ở đình làng có giá trị không phải vì nó khớp với mã số nào, mà vì nó cho biết một cộng đồng đã nghĩ, đã nhớ, đã sống với di tích của mình ra sao. Với những ai muốn đi xa hơn, đọc các công trình sưu tầm, khảo dị của giới nghiên cứu Việt Nam và hỏi chuyện các viện chuyên ngành là con đường chắc chắn hơn mọi bảng tra cứu.

Câu hỏi thường gặp

Bảng mô-típ của Stith Thompson có bản tiếng Việt không?

Theo hiểu biết phổ biến, chưa có bản dịch đầy đủ sang tiếng Việt; nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam tham khảo bản gốc tiếng Anh và trích dẫn từng mô-típ khi cần. Người mới có thể bắt đầu từ các công trình tiếng Việt về truyện dân gian, nơi các tác giả đã giải thích những khái niệm này.

Truyền thuyết và thần thoại khác nhau thế nào?

Theo cách chia phổ biến, thần thoại kể về thời khởi thuỷ của thế giới với nhân vật là thần, còn truyền thuyết đặt trong quá khứ gần hơn, gắn với người, nơi chốn có thật và được kể như có thật. Ranh giới giữa hai loại không phải lúc nào cũng rõ, như chuyện thời Hùng Vương có cả nét thần thoại lẫn truyền thuyết.

Hệ thống ATU có dùng được cho chuyện di tích không?

Có thể tham khảo, nhưng thường ít khớp. Hệ ATU chủ yếu phân loại truyện cổ tích, truyện cười, truyện động vật theo cốt truyện, trong khi chuyện di tích là truyền thuyết rời rạc gắn với nơi chốn. Bảng mô-típ thường hữu ích hơn cho loại tư liệu này.

Ghi âm người già kể chuyện cần lưu ý gì?

Hãy hỏi phép, nói rõ mục đích, tôn trọng mong muốn giữ ẩn danh, chọn lúc người kể khoẻ và thoải mái, ghi nguyên văn, không cắt ngang để sửa. Sau đó nên gửi lại cho gia đình một bản ghi, vì đó cũng là kỷ vật của họ.

Vì sao chuyện di tích hay có nhiều dị bản?

Vì chúng sống qua lời kể của nhiều người, nhiều thế hệ, mỗi người nhớ và nhấn khác nhau, có khi do nhu cầu của từng thời. Dị bản không phải là lỗi mà là dữ liệu: so các dị bản giúp thấy phần lõi ổn định và phần thay đổi của câu chuyện.

Có cần học folklore học mới viết được về chuyện di tích không?

Không bắt buộc, nhưng nắm vài khái niệm như mô-típ, dị bản, truyền thuyết sẽ giúp bạn viết chính xác hơn, tránh khẳng định quá mức và tránh chê bai niềm tin của người khác. Những khái niệm này học được trong vài buổi đọc.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183