Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam là bộ sách năm tập do nhà nghiên cứu Nguyễn Đổng Chi sưu tầm và biên soạn, in dần từ cuối thập niên 1950 đến đầu thập niên 1980. Điểm làm bộ sách khác các tuyển tập phổ thông là sau mỗi truyện thường có phần khảo dị: ghi các bản kể khác nhau ở các vùng, chỗ giống và khác, và những truyện tương tự ở nước ngoài.
Với người tìm hiểu chuyện di tích, phần khảo dị là một mỏ quặng. Nó cho biết một truyện được kể ở những làng nào, gắn với ngọn núi, cái đầm, ngôi đền nào, và cùng một mô-típ đã đi qua bao nhiêu vùng. Bài này giới thiệu bộ sách, cách đọc phần khảo dị, so với các tuyển tập khác, và cách dùng nó trước một chuyến đi.
Bộ sách và người soạn
Nguyễn Đổng Chi là nhà nghiên cứu văn học dân gian và lịch sử, sống trong khoảng từ năm 1915 đến năm 1984. Ông dành nhiều chục năm cho việc sưu tầm, đối chiếu truyện cổ từ sách vở và từ lời kể, rồi biên soạn lại thành bộ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Bộ sách gồm năm tập, tập đầu ra đời cuối thập niên 1950, tập cuối vào đầu thập niên 1980, và đã được tái bản nhiều lần, có lần in gộp.
Ngoài phần truyện, bộ sách có một phần mở đầu dài bàn về truyện cổ tích: nguồn gốc, phân loại, quá trình lưu truyền, quan hệ với truyện các nước. Phần này viết cho người nghiên cứu, nhưng người đọc phổ thông đọc lướt cũng hiểu thêm vì sao một truyện có nhiều bản. Văn kể trong bộ sách được viết lại bằng lời của người biên soạn, mạch lạc và dễ đọc, dựa trên việc tổng hợp nhiều bản.
Cần nói rõ: "kể lại" không có nghĩa là ghi âm nguyên văn một người kể. Người biên soạn chọn một bản làm nền, bổ sung chi tiết từ các bản khác, rồi ghi những chỗ khác biệt trong phần khảo dị. Vì vậy khi trích, bạn nên ghi "theo bản kể trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam", và nếu cần một bản kể của một làng cụ thể thì xem phần khảo dị hoặc tìm nguồn điền dã.
Phần khảo dị là gì và vì sao nó quý
Ghi bản kể ở các vùng. Khảo dị cho biết truyện này ở vùng này kể thế này, ở vùng khác kể thế khác: nhân vật đổi tên, kết thúc khác, chi tiết thêm bớt. Đó là bằng chứng rằng truyện sống, không đứng yên.
Ghi nơi chốn gắn với truyện. Nhiều đoạn khảo dị nói truyện được người ở một làng, một vùng gắn với một ngọn núi, một cái gò, một ngôi đền. Đây là phần người tìm chuyện di tích nên đọc kỹ nhất, vì nó chỉ đường cho bạn biết nên hỏi ở đâu.
So với truyện nước ngoài. Người biên soạn thường chỉ ra truyện tương tự ở Trung Hoa, Ấn Độ, các nước Đông Nam Á, đôi khi cả châu Âu. Biết điều này giúp bạn tránh nói "chỉ Việt Nam mới có chuyện này" và hiểu mô-típ chung của loài người.
Nêu nguồn đã dùng. Phần khảo dị thường nhắc truyện đã được ghi trong sách cổ nào, hoặc do ai kể, sưu tầm ở đâu. Từ đó bạn có thể lần ngược về nguồn gốc hơn, như Lĩnh Nam chích quái, các tập truyền kỳ hay tập ký.
Giới hạn. Khảo dị phản ánh tư liệu người biên soạn có trong tay vào thời điểm viết. Nhiều bản kể địa phương được sưu tầm sau này không có mặt. Đừng coi khảo dị là danh sách đầy đủ mọi nơi kể truyện.
Những kiểu truyện gắn với nơi chốn trong bộ sách
Không phải truyện nào trong bộ sách cũng có địa chỉ. Những nhóm sau đây là nơi bạn dễ tìm được truyện gắn với một di tích hay một cảnh quan cụ thể.
- Truyện "sự tích" một cảnh quan: giải thích vì sao có cái hồ, cái đầm, hòn đá hình người, ngọn núi mang tên lạ. Phần khảo dị thường chỉ ra nhiều nơi cùng có truyện tương tự.
- Truyện về người được thờ ở đền làng: người có công, người hiếu nghĩa, người có tài lạ, sau khi mất được làng lập đền. Bản kể trong sách có thể khác với thần tích của chính ngôi đền.
- Truyện giải thích tên làng, tên đất: kiểu từ nguyên dân gian, giải thích một tên gọi bằng một câu chuyện. Truyện dễ nhớ nhưng cần phân biệt với giải thích của địa danh học.
- Truyện danh nhân địa phương: những người có thật được dân gian kể thêm chuyện tài trí, gắn với quê quán hoặc nơi họ làm quan.
- Truyện có nguồn từ sách cổ: những truyện vốn có trong Lĩnh Nam chích quái hoặc các tập truyền kỳ, được kể lại bằng lời dễ đọc, kèm chú thích về bản gốc.
Khi tìm được một truyện, hãy ghi lại cả tên truyện, tập, và những địa danh trong khảo dị. Danh sách này là điểm bắt đầu cho một chuyến đi tìm hiểu có mục đích.
Đọc một đoạn khảo dị: ví dụ giả định
Để thấy cách khai thác, hãy hình dung một ví dụ giả định, không trích từ bộ sách. Truyện chính kể về một người phụ nữ chờ chồng trên núi rồi hoá đá. Phần khảo dị phía sau có thể ghi: ở một tỉnh miền núi phía Bắc, người ta kể người vợ bế con; ở một tỉnh ven biển miền Trung, truyện gắn với một mỏm đá nhìn ra cửa biển và người chồng đi đánh cá; ở một vùng khác, người chồng đi lính mãi không về và người vợ đứng trông về hướng đường cái quan. Cuối đoạn, người biên soạn nhắc truyện tương tự ở Trung Hoa.
Từ đoạn khảo dị như vậy, bạn rút ra ba thứ. Một là danh sách nơi chốn có thể đến tìm hiểu. Hai là danh sách chi tiết khác nhau, giúp bạn biết khi đến mỗi nơi nên hỏi gì. Ba là mô-típ chung, giúp bạn giải thích cho người nghe vì sao truyện xuất hiện ở nhiều nơi mà không nơi nào "sai".
Khi ghi chép, hãy giữ cấu trúc ba phần ấy trong sổ của bạn. Sau vài truyện, bạn sẽ có một tập tư liệu nhỏ sắp theo nơi chốn, đủ để chuẩn bị cho nhiều chuyến đi, nhiều buổi kể chuyện. Đó cũng là cách nhà nghiên cứu văn học dân gian làm việc, chỉ ở quy mô nhỏ hơn.
So với các tuyển tập truyện cổ khác
Bộ sách của Nguyễn Đổng Chi không phải tuyển tập duy nhất. Bảng dưới giúp bạn chọn đúng sách cho mục đích của mình; đặc điểm nêu theo giới thiệu phổ biến.
| Tuyển tập | Thời điểm | Điểm mạnh | Hợp với ai |
|---|---|---|---|
| Truyện cổ nước Nam của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc | Đầu thập niên 1930 | Một trong những tuyển tập truyện cổ bằng quốc ngữ sớm, văn kể giản dị | Người muốn đọc truyện theo giọng kể xưa |
| Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi | Cuối thập niên 1950 đến đầu thập niên 1980 | Có khảo dị, đối chiếu dị bản và truyện nước ngoài | Người tìm hiểu dị bản, nơi chốn, nguồn gốc |
| Các bộ tổng tập văn học dân gian nhiều tập | Từ cuối thế kỷ XX | Quy mô lớn, gom nhiều thể loại và nhiều nguồn sưu tầm | Người nghiên cứu cần tra cứu rộng |
| Tuyển tập truyện cổ các dân tộc thiểu số | Nhiều thời điểm | Truyện của các cộng đồng Tày, Thái, Mường, Ê Đê, Chăm, Khmer… | Người tìm chuyện kể về núi, thác, hồ ở miền núi và phương Nam |
| Tuyển tập truyện dân gian của từng tỉnh | Nhiều thời điểm | Sưu tầm tại chỗ, gắn chặt với làng và di tích địa phương | Người tìm chuyện của một vùng cụ thể |
Với chuyện di tích, cách làm hiệu quả là bắt đầu từ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam để có cái nhìn rộng, rồi tìm tuyển tập của tỉnh để có bản kể sát với làng.
Dùng bộ sách trước một chuyến đi
Nếu bạn sắp đến một nơi có cảnh quan hay di tích gắn với truyện cổ, các bước sau giúp bạn chuẩn bị trong một buổi tối.
- Tra mục lục các tập để tìm truyện có tên địa danh hoặc cảnh quan bạn sắp đến.
- Đọc truyện, rồi đọc kỹ phần khảo dị, gạch dưới những địa danh và những chi tiết khác nhau giữa các bản.
- Nếu khảo dị nhắc sách cổ, tìm đọc truyện tương ứng trong sách đó để biết bản sớm nhất kể thế nào.
- Chuẩn bị vài câu hỏi để hỏi người địa phương: làng có kể truyện này không, kể khác sách ở đâu, có tục lệ hay nơi chốn nào gắn với truyện.
- Khi về, ghi lại bản kể bạn nghe được kèm tên làng, thời điểm, và người kể nếu họ đồng ý. Đó là đóng góp nhỏ vào kho tư liệu chung.
Khi truyện trong sách khác với lời kể ở di tích
Bạn sẽ thường gặp tình huống này: truyện trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam kể một đằng, biển giới thiệu ở di tích kể một nẻo, cụ già trong làng lại kể một cách khác nữa. Đó không phải chuyện ai đúng ai sai. Truyện dân gian vốn sống bằng nhiều bản; bộ sách chọn một bản để kể, làng giữ bản của làng, biển giới thiệu thường tổng hợp từ nhiều nguồn.
Cách xử lý tốt là tôn trọng bản của làng khi đứng ở làng. Nếu bạn là người kể chuyện, nên nói đại ý: "Ở đây người làng kể thế này, còn trong sách sưu tầm thì có bản kể khác ở chỗ…". Câu nói ấy cho người nghe thấy sự phong phú, mà không làm người làng cảm thấy truyện của họ bị coi là sai.
Nếu bạn làm nội dung, video hay podcast, hãy nêu rõ bản nào lấy từ đâu. Đừng trộn chi tiết của nhiều bản thành một "truyền thuyết chuẩn" rồi gán cho một làng cụ thể. Làm vậy vô tình tạo ra một bản kể mới mà không ai từng kể, rồi bản ấy lan đi và đè lên bản của làng.
Câu hỏi thường gặp
Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam có bao nhiêu tập?
Bộ sách gồm năm tập, in dần từ cuối thập niên 1950 đến đầu thập niên 1980, về sau được tái bản nhiều lần, có lần in gộp thành ít tập hơn. Khi trích dẫn, bạn nên ghi rõ năm tái bản và nhà xuất bản của bản mình dùng, vì số trang mỗi lần in khác nhau.
Truyện trong bộ sách có phải nguyên văn lời người kể không?
Không. Người biên soạn kể lại bằng lời của mình, dựa trên việc tổng hợp nhiều bản từ sách vở và lời kể, rồi ghi các khác biệt trong phần khảo dị. Muốn có nguyên văn một bản kể địa phương, bạn cần tìm các tư liệu điền dã hoặc tuyển tập của tỉnh.
Phần khảo dị có khó đọc không?
Phần khảo dị viết bằng văn nghiên cứu nhưng không quá khó. Nó thường nêu các bản kể ở vùng khác, chỉ ra chỗ giống, chỗ khác, và nhắc truyện tương tự ở nước ngoài. Người đọc phổ thông có thể đọc lướt để tìm địa danh và chi tiết khác biệt, không cần đọc hết phần so sánh quốc tế.
Bộ sách có truyện của các dân tộc thiểu số không?
Bộ sách có một số truyện của các dân tộc và nhiều chỗ so sánh trong khảo dị, nhưng trọng tâm là truyện của người Việt. Nếu bạn quan tâm đến chuyện kể ở Tây Nguyên, Tây Bắc hay của người Chăm, Khmer, nên tìm thêm các tuyển tập riêng về truyện cổ của từng dân tộc.
Có nên đọc bộ sách này cho trẻ em không?
Phần truyện kể khá dễ đọc và hợp để người lớn đọc cho trẻ nghe, nhưng một số truyện có chi tiết buồn hoặc dữ dội của truyện cổ. Người lớn nên đọc trước, chọn truyện, và bỏ qua phần khảo dị khi đọc cho trẻ nhỏ. Trẻ lớn hơn có thể thích phần so sánh truyện các nước.
Vì sao nhiều nơi cùng có một truyện giống nhau?
Truyện dân gian lan theo đường đi của con người: di dân, buôn bán, học hành, lính tráng. Một mô-típ hay sẽ được nhiều làng tiếp nhận và gắn với cảnh quan của mình. Phần khảo dị trong bộ sách cho thấy rõ hiện tượng này, và đó là điều tự nhiên của văn hoá truyền miệng.