MauNhiem.comMầu Nhiệm
Giai thoại danh nhân bên di tích

Hồ Xuân Hương đề vịnh hang động: Hương Tích, Cắc Cớ, Kẽm Trống, đèo Ba Dội

Những bài thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương về hang động, núi đèo: mỗi bài gắn với nơi nào, đọc hai lớp nghĩa ra sao và vì sao chuyện tác giả còn tranh luận.

Looking out from inside a limestone cave toward bright green river valley in northern Vietnam, rough rock arch framing the view, a lone traveler silhouetted at the entrance

Trong số thơ Nôm truyền tụng dưới tên Hồ Xuân Hương có một nhóm bài vịnh hang động và núi đèo cụ thể: động Hương Tích ở Hương Sơn, hang Cắc Cớ ở chùa Thầy, Kẽm Trống trên sông Đáy, đèo Ba Dội giữa Ninh Bình và Thanh Hoá. Những bài thơ này nổi tiếng vì lối viết hai lớp nghĩa: một lớp tả cảnh, một lớp ẩn ý tinh nghịch về con người.

Bài này đi theo từng nơi chốn, kể xem bài thơ gắn với đâu, nơi ấy trông thế nào, lớp nghĩa tả cảnh nói gì, và vì sao những bài này trở thành một phần "giai thoại" của chính cảnh quan. Bài không trích nguyên văn vì văn bản có nhiều dị bản; muốn đọc trọn, bạn nên tìm một tuyển tập có khảo dị. Phần tranh luận về tác giả chỉ nói ngắn.

Hồ Xuân Hương là ai và vì sao bà viết về hang động

Hồ Xuân Hương sống khoảng cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX, gốc ở Quỳnh Đôi, Nghệ An, và sống lâu năm ở Thăng Long, gần hồ Tây. Bà được người đời sau gọi là Bà chúa thơ Nôm. Tiểu sử của bà có nhiều chỗ chưa rõ; nguồn tư liệu quan trọng được tìm thấy vào giữa thế kỷ XX là tập Lưu hương ký, giúp giới nghiên cứu hiểu thêm về cuộc đời và giao du của bà.

Nhiều bài thơ truyền tụng cho thấy bà đi nhiều, đến các danh thắng miền Bắc và miền Trung. Thời ấy, đi thăm hang động, chùa núi là thú vui của giới văn nhân; đề thơ tại danh thắng là một truyền thống lâu đời. Điều làm thơ Hồ Xuân Hương khác là bà không chỉ khen cảnh đẹp hay bày tỏ lòng thành kính như phần lớn thơ đề vịnh, mà còn nhìn cảnh bằng con mắt tinh quái, thấy trong núi đá những hình ảnh đời thường.

Cũng nên nhớ rằng thời ấy, đi thăm danh thắng không dễ như bây giờ. Từ Thăng Long đến Hương Sơn phải đi thuyền theo sông, rồi đi đò vào suối Yến; đến Kẽm Trống cũng phải xuôi sông Đáy; đèo Ba Dội là chặng khó trên đường thiên lý vào Thanh Hoá. Một người phụ nữ đi những chặng ấy và để lại thơ là điều không thường gặp, và chính điều đó cũng góp phần làm nên giai thoại về bà như một người tự do, dám đi, dám viết.

Kết quả là một nhóm bài thơ mà khi đến nơi, người đọc không thể nhìn cảnh như trước nữa. Hang động trở thành nhân vật của thơ, và thơ trở thành giai thoại của hang động. Đây là lý do nhóm thơ này có chỗ trong một trang về chuyện kể gắn với di tích.

Bốn nơi chốn, bốn bài thơ

Dưới đây là các bài thường được nhắc nhất, kèm vị trí và lớp nghĩa tả cảnh. Lớp nghĩa thứ hai, bạn đọc trực tiếp trong tuyển tập sẽ tự nhận ra.

  • Động Hương Tích (Hương Sơn, Hà Nội). Hang lớn nhất trong quần thể chùa Hương, được chúa Trịnh Sâm khen là "nam thiên đệ nhất động" theo lời truyền. Bài thơ tả cửa động, nhũ đá, dòng nước nhỏ giọt trong hang. Ở lớp tả cảnh, bài thơ khá trung thành với hình dáng động; lớp thứ hai là lối chơi chữ mà người đọc thơ Hồ Xuân Hương quen thuộc.
  • Hang Cắc Cớ (chùa Thầy, Hà Nội). Hang trên núi Sài Sơn, nằm trong quần thể chùa Thầy. Câu ca dao về hội chùa Thầy, nhắc trai chưa vợ và gái chưa chồng cùng nhớ hội và nhớ hang Cắc Cớ, cho thấy hang vốn đã gắn với chuyện đôi lứa trong dân gian trước cả bài thơ.
  • Kẽm Trống (sông Đáy, Ninh Bình). Hẻm núi nơi sông Đáy chảy qua giữa hai vách đá, thuộc vùng Hà Nam cũ, nay thuộc tỉnh Ninh Bình. Bài thơ tả hai bên vách núi, dòng nước giữa, con thuyền đi qua. Cảnh thật vẫn còn, và người đi thuyền ở đây thường được kể bài thơ.
  • Đèo Ba Dội (Ninh Bình – Thanh Hoá). Con đèo trên đường thiên lý cũ vượt dãy Tam Điệp. Bài thơ tả các bậc đèo, cây cối, dốc lên xuống. Người đi đường xưa qua đây là khách bộ hành, phu kiệu, nên bài thơ mang cả không khí đường xa.

Nhìn bốn nơi này, bạn thấy một điểm chung: chúng đều là cảnh quan đá vôi đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ và rìa núi, nơi hang, vách, đèo nhiều hình thù. Chính những hình thù ấy gợi ra lớp nghĩa thứ hai trong thơ. Đây là một ví dụ thú vị về cách địa chất trở thành chất liệu văn chương.

Lối viết hai lớp nghĩa và vì sao nó làm nên giai thoại

Giới nghiên cứu văn học thường gọi lối viết của nhóm thơ này là "thanh mà tục, tục mà thanh": đọc theo nghĩa đen là tả cảnh trang nhã, đọc theo nghĩa bóng thì có ý trêu cợt về thân thể, về chuyện nam nữ. Tài của người viết nằm ở chỗ cả hai lớp đều trọn vẹn, không lớp nào gượng.

Lối viết này có gốc trong văn hoá dân gian Việt. Câu đố, ca dao, hát đối đáp vẫn dùng hình ảnh hai nghĩa để vừa kín đáo vừa vui. Thơ Hồ Xuân Hương đưa lối chơi ấy vào thể thơ Đường luật vốn trang nghiêm, và chọn đúng những cảnh vốn được coi là nơi tu hành, thắng tích. Sự đặt cạnh ấy làm người đọc bật cười, và cũng khiến thơ bà bị một số nhà nho đương thời chê trách.

Với những người đến thăm hang động, nhóm thơ này tạo ra một lớp "giai thoại cảnh quan": hướng dẫn viên, người chèo đò, người dân địa phương hay đọc vài câu khi khách đến nơi, kèm một nụ cười. Đó là cách thơ sống trong đời thường, khác với cách thơ sống trong sách giáo khoa.

Khi kể cho trẻ em hay học sinh nhỏ, chỉ nên nói lớp tả cảnh. Lớp nghĩa thứ hai phù hợp với người lớn hoặc học sinh đã học thơ trung đại có hướng dẫn của thầy cô. Không cần né tránh việc bài thơ có hai lớp nghĩa, nhưng nên tôn trọng nơi chốn, nhất là ở chùa, động đang là nơi thờ tự.

Đọc thơ ngay tại chỗ: gợi ý cho người đi thăm

Nếu muốn mang thơ Hồ Xuân Hương theo khi đi thăm các nơi này, bảng dưới gợi ý cách đọc lớp tả cảnh để đối chiếu với cảnh thật.

Nơi chốnChi tiết cảnh nên tìmĐối chiếu với thơLưu ý khi ở nơi thờ tự
Động Hương TíchCửa động, nhũ đá, giọt nước, khói hươngHình dáng cửa động, dòng nước trong hangĐông người dịp hội; giữ im lặng trong động
Hang Cắc CớLối lên hang trên núi Sài Sơn, khe đá hẹpĐường vào hang và lòng hangHang trong khu chùa; ăn mặc kín đáo
Kẽm TrốngHai vách đá, dòng sông Đáy, thuyền qua kẽmHai bên vách và lòng sôngKhông phải nơi thờ tự; chú ý an toàn trên thuyền
Đèo Ba DộiCác bậc đèo, rừng cây, tầm nhìn từ đỉnhDốc lên xuống, cảnh đường xaĐèo cũ nay có đường mới; chỉ dừng nơi an toàn

Đọc thơ ở đúng nơi chốn là một trải nghiệm khác hẳn đọc trong phòng. Bạn sẽ thấy nhà thơ quan sát cảnh rất kỹ trước khi chơi chữ; lớp nghĩa thứ hai chỉ đứng được vì lớp nghĩa thứ nhất đã đúng với cảnh thật.

Chuyện tác giả: bài nào thật của Hồ Xuân Hương?

Vấn đề văn bản. Phần lớn thơ Nôm mang tên Hồ Xuân Hương được lưu truyền qua sách chép tay và bản in thế kỷ XIX – XX, có nhiều dị bản. Một số bài có thể là của người khác được gán cho bà vì hợp phong cách.

Ý kiến giới nghiên cứu. Nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng xác định nhóm bài đáng tin cậy nhất; danh sách giữa các học giả không hoàn toàn trùng nhau. Bài nào chắc chắn là của bà vẫn là câu hỏi mở.

Với nhóm thơ hang động. Các bài về Hương Tích, Cắc Cớ, Kẽm Trống, Ba Dội thường nằm trong nhóm được nhắc nhiều nhất và gắn với tên bà từ lâu. Tuy vậy, khi trích, nên dùng bản có khảo dị và ghi "thơ truyền tụng của Hồ Xuân Hương".

Cách kiểm tra khi trích. Nếu cần trích một câu cho bài viết, video hay biển giới thiệu, hãy đối chiếu ít nhất hai tuyển tập có uy tín, ghi rõ tên sách và người biên soạn. Thấy hai bản khác nhau ở một chữ thì chọn bản có chú thích, và ghi chú rằng có dị bản. Không chép từ ảnh chụp lan truyền trên mạng xã hội, vì nhiều ảnh đã bị sửa chữ hoặc ghép bài của người khác.

Ảnh hưởng tới giai thoại. Dù tác giả là ai, những bài thơ đã gắn với nơi chốn và trở thành một phần ký ức của cảnh quan. Với người đi thăm, điều đó đủ để thơ có chỗ trong câu chuyện của hang động.

Từ thơ đến giai thoại: những chuyện kể quanh nhà thơ ở danh thắng

Quanh các bài thơ, dân gian còn thêu dệt những giai thoại về chính nhà thơ: bà đi thuyền qua Kẽm Trống gặp ai, bà lên đèo Ba Dội đối đáp với ai, bà đến chùa Hương làm thơ trêu ai. Những chuyện này thường không có nguồn và có nhiều bản, thậm chí có chuyện được kể cho cả nhà thơ khác. Khi kể, nên coi đó là chuyện vui truyền miệng.

Một số giai thoại kể Hồ Xuân Hương đối đáp với các nhà nho, chiêu Hổ là một tên gọi hay được nhắc. Các câu thơ đối đáp trong giai thoại thường không rõ gốc; giới nghiên cứu khuyên nên tách chúng khỏi nhóm thơ có độ tin cậy cao hơn.

Điều đáng giữ là hình ảnh một người phụ nữ đi nhiều, nhìn cảnh bằng con mắt riêng, dám đùa với những điều người khác không dám. Hình ảnh ấy đã đi vào chính cảnh quan: ở Hương Tích, ở chùa Thầy, ở Kẽm Trống, người ta vẫn nhắc đến bà như một vị khách quen của núi non. Kể đúng về bà là kể về một nhà thơ, không phải một nhân vật truyện tếu.

Câu hỏi thường gặp

Hồ Xuân Hương có những bài thơ nào về hang động?

Trong thơ Nôm truyền tụng dưới tên bà, các bài thường được nhắc là Động Hương Tích, Hang Cắc Cớ, Kẽm Trống và Đèo Ba Dội. Mỗi bài gắn với một nơi chốn có thật ở miền Bắc và rìa miền Trung.

Kẽm Trống ở đâu?

Kẽm Trống là hẻm núi nơi sông Đáy chảy qua giữa hai vách đá, thuộc vùng Hà Nam cũ. Sau sắp xếp đơn vị hành chính từ tháng 7 năm 2025, vùng này thuộc tỉnh Ninh Bình. Người đi thuyền qua đây vẫn thường được kể bài thơ.

Vì sao thơ Hồ Xuân Hương về hang động có hai lớp nghĩa?

Đây là lối viết thanh mà tục, tục mà thanh: nghĩa đen tả cảnh, nghĩa bóng trêu cợt chuyện đời thường. Lối viết có gốc trong câu đố, ca dao dân gian, được bà đưa vào thơ Đường luật và áp vào những cảnh vốn trang nghiêm.

Các bài thơ này có chắc chắn của Hồ Xuân Hương không?

Chưa hoàn toàn chắc. Thơ Nôm mang tên bà được lưu truyền qua nhiều bản chép và in muộn, có dị bản và có bài có thể bị gán nhầm. Nhóm thơ hang động thường được nhắc nhiều, nhưng khi trích nên ghi là thơ truyền tụng.

Có nên đọc lớp nghĩa thứ hai cho học sinh không?

Với học sinh nhỏ, chỉ nên đọc lớp tả cảnh. Lớp nghĩa thứ hai phù hợp khi học sinh đã học thơ trung đại có hướng dẫn của thầy cô. Không cần né việc bài thơ có hai lớp nghĩa, nhưng nên giải thích trong bối cảnh văn học.

Đọc thơ Hồ Xuân Hương ở chùa có bất kính không?

Đọc thơ để hiểu văn học không phải là bất kính, nhưng nên giữ chừng mực ở nơi đang thờ tự: đọc khẽ, không đùa cợt ồn ào trong điện thờ, ăn mặc kín đáo. Có thể để phần bàn luận về lớp nghĩa thứ hai cho lúc đã rời khu thờ tự.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183